Có một thực tế mà những người làm công tác tư tưởng đều trăn trở: làm sao để xóa nhòa khoảng cách giữa lý luận hàn lâm và đời sống của quần chúng? Lý luận nếu chỉ nằm trên các bài giảng hay trong những cuốn sách dày cộp, nó sẽ khó lòng chạm tới người nông dân, người lao động bình thường - những người vốn đang hằng ngày đối mặt với gánh nặng mưu sinh. Nhìn lại lịch sử năm 1941, khi Nguyễn Ái Quốc trở về nước, sự sắc sảo của Người không nằm ở việc áp đặt những công thức lý luận sẵn có vào thực tế Việt Nam. Giữa núi rừng Pác Bó, Người đã chọn một lối đi riêng: đưa tinh hoa tư tưởng thế giới hòa vào làm một với khát vọng giải phóng của nhân dân.

Cuộc "gạn đục khơi trong" từ thực tiễn thế giới
Để có được năng lực thấu hiểu và giản dị hóa mọi điều phức tạp, Nguyễn Ái Quốc đã dành 30 năm bôn ba khắp các châu lục. Người học lý luận không chỉ từ sách vở, mà từ chính những cuộc tranh luận nảy lửa tại Đại hội Tour (Pháp) năm 1920, từ thực tế viết báo ở Paris, hay những năm tháng nghiên cứu tại Moscow.
Người tiếp thu sâu sắc, trọn vẹn bản chất khoa học của Chủ nghĩa Mác - Lê-nin, nhưng đồng thời với tư duy của một nhà cách mạng thực tiễn, Người sớm nhận ra việc rập khuôn máy móc sẽ là lực cản cho phong trào giải phóng thuộc địa. Với khát khao bảo vệ, phát triển và làm phong phú thêm học thuyết này bằng thực tiễn phương Đông, trong tác phẩm “Báo cáo về Bắc Kỳ, Trung Kỳ và Nam Kỳ” viết năm 1924, Người đã thẳng thắn luận giải:
"Mác đã xây dựng học thuyết của mình trên triết lý lịch sử nào? Trên hình thái lịch sử nào? Trên lịch sử châu Âu. Mà châu Âu là gì? Châu Âu chưa phải là toàn thể nhân loại".
Nhãn quan ấy cho thấy ngay từ khi còn ở nước ngoài, Người đã định hình một tư duy nhất quán... muốn cách mạng gần dân, lý luận bắt buộc phải được "bản địa hóa", phải được diễn đạt bằng chính tiếng nói và hơi thở của dân tộc Việt Nam.

Chiếc máy chữ cũ và những câu thơ lục bát giữa núi rừng: Tháng 1/1941, Người trở về Tổ quốc. Pác Bó (Cao Bằng) là nơi đầu tiên đón bước chân Người. Đồng bào Tày, Nùng nơi đây giàu lòng yêu nước nhưng phần lớn còn mù chữ, đời sống rất cơ cực. Làm sao để những người dân cày nghèo khổ hiểu được những khái niệm như "giai cấp", "thực dân" hay "biện chứng"?
Người đã chọn một cách tiếp cận rất tự nhiên: "dịch" tất cả thành những điều quen thuộc hằng ngày. Chiếc máy chữ xách tay nhỏ gọn hiệu Hermes Baby bên dòng suối Lê-nin chính là người bạn đồng hành trong cuộc dịch chuyển tư tưởng đó.
Viết lại sách kinh điển thành cẩm nang: Tại Pác Bó, Bác trực tiếp dịch và biên soạn các tài liệu huấn luyện cốt lõi như “Lịch sử tư sản hóa”, “Cách đánh du kích”... Người chủ động lược bỏ các tranh luận học thuật phức tạp, tóm tắt lại thành những phương pháp ngắn gọn về tổ chức và giữ bí mật để làm tài liệu huấn luyện cho lớp cán bộ chiến lược đầu tiên của Đảng.
Chuyển lý luận thành lời ca tiếng hát: Hiểu được tâm lý đồng bào miền núi yêu thích ca dao, hò vè, Bác cụ thể hóa chương trình của Mặt trận Việt Minh thành những bài thơ lục bát mộc mạc đăng trên báo Việt Nam Độc lập. Từ bài thơ “Bài ca Việt Minh” (diễn ca 10 chính sách lớn) đến các bài “Ca dân cày”, “Ca công nhân”, tất cả đều dễ thuộc, dễ nhớ, đưa lòng yêu nước thấm sâu vào từng nếp nhà.

Bước chân vào hang Cốc Bó lạnh giá, chạm tay vào vách đá xám lạnh, mới cảm nhận hết sự phi thường của một vĩ nhân ngồi bên chiếc máy chữ Hermes cũ kỹ gõ từng dòng chữ. Không có ánh đèn điện, không có sự tiện nghi của những văn phòng hiện đại... chỉ có tiếng suối chảy bên ngoài hang và nỗi nung nấu cứu nước bên ngọn đèn dầu mờ tỏ khi đêm về.
Trong bài thơ “Bài ca Việt Minh” đăng trên báo Việt Nam Độc lập năm 1941, Người thiết tha kêu gọi:
"Cờ treo độc lập nền vàng sao năm
Hai chữ "Cách mệnh" vốn mang tính học thuật cao, từ chương kinh điển của cuốn Đường Kách mệnh năm xưa nay được Người thực hành sống động giữa đời thực bằng những lời giải thích rất đỗi bình dị cho đồng bào miền núi: Phá cái cũ đổi ra cái mới, phá cái xấu đổi ra cái tốt...
Chính thứ ngôn ngữ gần gũi như củ sắn, củ khoai ấy đã giúp lý luận thấm sâu vào lòng dân. Người mặc áo chàm Cao Bằng hiểu rằng đi theo cách mạng là để giữ lấy hạt gạo mình làm ra, để con cái được học chữ, để cuộc sống bớt khổ cực. Khi người dân đã hiểu và tin... lý luận đã thực sự biến thành sức mạnh hành động.
Mạch nguồn thực tiễn trong khát vọng vươn mình hôm nay

Có những khoảnh khắc lặng đi khi đứng trước dòng suối Lê-nin, nhìn dòng nước trong vắt chảy mãi không ngừng... Giống như tư duy thực tiễn của Bác, trải qua hơn tám thập kỷ, vẫn là mạch nguồn chảy mãi trong triết lý hành động của Đảng. Ý thức "nghe dân nói, nói dân hiểu, làm dân tin" từ hang đá năm xưa đang hiển hiện sống động trong những quyết sách lớn của thời đại hôm nay. Khi Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm đặt ra những yêu cầu cốt lõi về đổi mới thể chế, tinh gọn bộ máy và chống lãng phí, đó không thuần túy là những mệnh đề quản lý, mà chính là sự tiếp nối tinh thần Pác Bó trên một tầm vóc mới.
Người đứng đầu Đảng và Nhà nước nhiều lần nhắc nhở rằng cơ chế, luật pháp ban hành ra phải xuất phát từ thực tiễn, vì lợi ích của nhân dân, phải ngắn gọn và tường minh để bất kỳ ai cũng có thể tiếp cận. Những quy trình rườm rà, những văn bản xa rời đời sống chính là một sự lãng phí vô hình nhưng vô cùng to lớn... lãng phí niềm tin và cơ hội phát triển của quốc gia.
Để đưa đất nước vững vàng bước vào kỷ nguyên vươn mình, tư duy hoạch định chính sách cần vượt qua lối mòn của những văn bản mang tính phong trào, hình thức, để bám sát và đồng hành cùng dòng chảy thực tiễn sống động. Tinh giản một thủ tục hành chính, khơi thông một nút thắt thể chế hôm nay, xét đến cùng, cũng chính là cách chúng ta đưa chính sách hòa vào "hơi thở của phong trào quần chúng" như cách Bác Hồ từng gõ máy chữ năm xưa.
Thay lời kết
Trong kỷ nguyên số, khi mọi thông tin vận hành ngày một nhanh, thế giới càng phức tạp thì người ta càng khao khát những điều rõ ràng, minh bạch. Hành trình đi vạn dặm năm châu để thấu hiểu nhân loại, rồi chọn ngồi lại trong hang đá biên thùy để dịch học thuyết thành tiếng nói của đồng bào... điều đó để lại cho chúng ta một bài học sâu sắc: Đỉnh cao của sự thông thái chính là sự giản dị.
Giản dị từ miếng ăn, thức mặc cho đến những vần thơ, câu chữ. Và có lẽ, không một ngôn từ nào khái quát trọn vẹn hơn phong thái hành động thực tiễn, bỏ qua mọi sự rườm rà, hình thức của Bác bằng chính bốn câu thơ Người viết tại đây vào tháng 2/1941:
"Sáng ra bờ suối, tối vào hang,
Cháo bẹ rau măng vẫn sẵn sàng.
Bàn đá chông chênh dịch sử Đảng,
Cuộc đời cách mạng thật là sang".
Cái "sang" của một vĩ nhân không đến từ sự tiện nghi bề nổi, mà đến từ một tâm thế tự tại, từ một tư duy sắc bén đặt trên cái nền của thực tiễn đời sống. Những trang sử mới của dân tộc đã được mở ra từ những ngày gian khổ mà hào hùng như thế... và bài học về tính thực tiễn, tinh thần hành động vì dân tại núi rừng Pác Bó sẽ mãi là kim chỉ nam cho chúng ta trên con đường vươn mình sắp tới.
Nguồn tin: baocaobang.vn
Ý kiến bạn đọc
Những tin cũ hơn
[Video] Hồ Chí Minh – Hành trình tìm đường cứu nước và giá trị còn mãi với thời gian