
Thời điểm ấy tình hình đất nước đen tối, bế tắc, không có đường ra. “Một câu hỏi lớn không lời đáp”.
Từ khi thực dân Pháp xâm lược Việt Nam năm 1858, các phong trào yêu nước chống Pháp liên tục diễn ra: Phong trào Cần Vương chống Pháp theo ý thức hệ phong kiến với các vị Vua yêu nước Hàm Nghi, Thành Thái, Duy Tân; phong trào khởi nghĩa nông dân của Hoàng Hoa Thám suốt 30 năm; phong trào yêu nước đầu thế kỷ XX của Phan Bội Châu, Phan Chu Trinh theo tư tưởng dân chủ tư sản. Các phong trào đó tiêu biểu cho tinh thần yêu nước và khát vọng độc lập nhưng đã lần lượt thất bại, bởi thiếu đường lối chính trị đúng đắn, không có phương pháp thích hợp và chưa có tổ chức lãnh đạo đủ mạnh và nhất là chưa tập hợp, đoàn kết toàn dân tộc.
Hoàn cảnh khắc nghiệt đó đòi hỏi phải có tư duy mới, tầm nhìn chiến lược và mục tiêu rõ ràng, triệt để, có thể hóa giải được những bế tắc của con đường phát triển dân tộc. Bằng con đường nào, phương pháp và lực lượng nào để giành lại độc lập, tự do và phát triển đất nước? Người thanh niên Nguyễn Tất Thành - Nguyễn Ái Quốc - Hồ Chí Minh trong hành trình tìm đường cứu nước và lãnh đạo cách mạng đã đi tới nhận thức và hành động đúng.
Một là, sự nghiệp giải phóng dân tộc, giải phóng xã hội, phát triển đất nước phải bắt đầu từ dân, vì dân, lấy dân là gốc. Tháng 12/1920, tại Đại hội Tours thành lập Đảng Cộng sản Pháp, lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc đã nêu rõ mục tiêu: “Tự do cho đồng bào tôi, độc lập cho Tổ quốc tôi, đấy là tất cả những điều tôi muốn, đấy là tất cả những điều tôi hiểu”(1).
Từ thực tiễn đấu tranh ở Việt Nam và từ các cuộc cách mạng trên thế giới được nghiên cứu, lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc thấy rõ: “Cách mệnh là việc chung của cả dân chúng chứ không phải việc một hai người”, “nếu không ra sức thì chắc không thành công”, “ít người làm không nổi, nhiều người đồng tâm hiệp lực mà làm thì phải nổi”. Người cho rằng phải hành động ngay, dựa trên sức mạnh toàn dân nhất định thành công.
Ngày 28/1/1941, lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc trở về Tổ quốc cùng Trung ương Đảng trực tiếp lãnh đạo cách mạng. Tại Cao Bằng, Người nói với đồng chí Võ Nguyên Giáp, phải đoàn kết toàn dân, vũ trang toàn dân, dân trước, súng sau, có dân sẽ có súng, có dân sẽ có tất cả.
Khi cách mạng thành công năm 1945, trong điều kiện Đảng cầm quyền, Chủ tịch Hồ Chí Minh rất chú trọng lợi ích của nhân dân. “Việc gì lợi cho dân, ta phải hết sức làm. Việc gì hại đến dân, ta phải hết sức tránh”, “nếu nước độc lập mà dân không hưởng hạnh phúc tự do, thì độc lập cũng chẳng có nghĩa lý gì”(2). Chính phủ, chính quyền địa phương cần phải: “Đem tài dân, sức dân, của dân làm lợi cho dân”(3). Người cho rằng cần đưa việc công ra để dân thảo luận, hỏi ý kiến dân, giải thích cho dân hiểu rõ để làm cho đúng. “Nghị quyết gì mà dân chúng cho là không hợp thì để họ đề nghị sửa chữa. Dựa vào ý kiến của dân chúng mà sửa chữa cán bộ và tổ chức của ta”(4). Người nhấn mạnh, nước ta là nước dân chủ.
“Bao nhiêu lợi ích đều vì dân.
Bao nhiêu quyền hạn đều của dân”(5).
Hai là, cách mạng muốn thành công phải có sự lãnh đạo của một Đảng chân chính cách mạng. Nhận thức của lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc về vai trò của Đảng cách mạng đã sáng tỏ ngay từ khi tiếp thụ lý luận Mác-Lênin. Vì vậy, năm 1919, Người gia nhập Đảng Xã hội Pháp, một Đảng của Quốc tế II bênh vực các dân tộc thuộc địa. Tháng 12/1920, Người tham gia sáng lập Đảng Cộng sản Pháp. Sau này, hoạt động trong Quốc tế Cộng sản, Người càng quyết tâm thành lập Đảng cách mạng ở Việt Nam.
Lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc nêu rõ, cách mệnh “Trước hết phải có đảng cách mệnh, để trong thì vận động và tổ chức dân chúng, ngoài thì liên lạc với dân tộc bị áp bức và vô sản giai cấp mọi nơi. Đảng có vững cách mệnh mới thành công, cũng như người cầm lái có vững thuyền mới chạy. Đảng muốn vững thì phải có chủ nghĩa làm cốt, trong đảng ai cũng phải hiểu, ai cũng phải theo chủ nghĩa ấy. Đảng mà không có chủ nghĩa cũng như người không có trí khôn, tàu không có bàn chỉ nam”(6). Chủ nghĩa nhắc đến là chủ nghĩa Mác-Lênin - “chủ nghĩa chân chính nhất, chắc chắn nhất, cách mệnh nhất”. Người ra sức chuẩn bị những điều kiện về chính trị, tư tưởng, lý luận, tổ chức và cán bộ để thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam vào mùa Xuân năm 1930.
Đảng đã lãnh đạo Cách mạng Tháng Tám năm 1945 thành công. Trong điều kiện Đảng cầm quyền, năm 1947, Chủ tịch Hồ Chí Minh đề ra 12 điều về Tư cách của Đảng chân chính cách mạng, điều đầu tiên là: “Đảng không phải là một tổ chức để làm quan phát tài. Nó phải làm tròn nhiệm vụ giải phóng dân tộc, làm cho Tổ quốc giàu mạnh, đồng bào sung sướng”(7). Người yêu cầu: Muốn cho Đảng được vững bền. Mười hai điều đó chớ quên điều nào. Một Đảng chân chính cách mạng phải là Đảng đạo đức, văn minh, thật sự vì nước, vì dân.
Ba là, cách mạng Việt Nam nêu cao ý chí tự chủ, tự lực, tự cường và chủ nghĩa quốc tế trong sáng. Đầu năm 1921, tại Paris, lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc gặp Bộ trưởng Bộ Thuộc địa Pháp Albert Sarraut, yêu cầu Pháp phải trả lại nền độc lập của Việt Nam. Điều đó đã không được thực hiện. Lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc quyết đấu tranh để giành độc lập. Hoạt động trong Quốc tế Cộng sản, Người thấy rõ chủ nghĩa quốc tế vô sản cao cả và ước muốn thế giới sống trong hòa bình, hữu nghị “Trời yên biển lặng”. Người thấu hiểu các dân tộc bị áp bức rất cần sự ủng hộ và giúp đỡ quốc tế nhưng cũng nhận thấy “muốn người ta giúp cho, thì trước mình phải tự giúp lấy mình đã”(8).
Cách mạng Tháng Tám năm 1945 là thắng lợi của ý chí tự lực, tự cường theo tư tưởng Hồ Chí Minh “đem sức ta mà tự giải phóng cho ta”.
Cách mạng Tháng Tám năm 1945 là thắng lợi của ý chí tự lực, tự cường theo tư tưởng Hồ Chí Minh “đem sức ta mà tự giải phóng cho ta”.
Đất nước mới độc lập vốn từ một nước thuộc địa nửa phong kiến, nghèo nàn, lạc hậu, với tầm nhìn chiến lược, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã mong muốn xây dựng đất nước giàu mạnh “sánh vai với các cường quốc năm châu”. Muốn vậy, phải ra sức học tập nâng cao dân trí, vì “một dân tộc dốt là một dân tộc yếu”. Phải học khoa học kỹ thuật của các nước tiên tiến.
Trong thư gửi Bộ trưởng Ngoại giao Hoa Kỳ ngày 1/11/1945, Người muốn gửi 50 thanh niên Việt Nam sang Mỹ để “nghiên cứu về kỹ thuật, nông nghiệp cũng như các lĩnh vực chuyên môn khác”(9). Năm 1946, trong Lời kêu gọi Liên hợp quốc, Người tuyên bố “chính sách mở cửa và hợp tác trong mọi lĩnh vực”(10). Năm 1947, Người nêu rõ Việt Nam mong muốn “Làm bạn với tất cả mọi nước dân chủ và không gây thù oán với một ai”(11).
Lãnh đạo xây dựng chủ nghĩa xã hội ở miền bắc, Chủ tịch Hồ Chí Minh chú trọng vận dụng chủ nghĩa Mác-Lênin và học tập kinh nghiệm các nước, đồng thời đề cao sự độc lập tự chủ. Lựa chọn hình thức, tốc độ, bước đi phù hợp và tìm ra quy luật riêng của Việt Nam, tiến dần lên chủ nghĩa xã hội. Việt Nam cần có cách làm riêng: “Ta không thể giống Liên Xô, vì Liên Xô có phong tục tập quán khác, có lịch sử địa lý khác”(12).
Tư tưởng, quan điểm và những chỉ dẫn của Chủ tịch Hồ Chí Minh suốt quá trình tìm đường cứu nước và lãnh đạo cách mạng đã cùng Đảng dẫn đường đưa dân tộc đi từ thắng lợi này đến thắng lợi khác và có được cơ đồ, tiềm lực, vị thế và uy tín quốc tế như ngày nay.
Tư tưởng, quan điểm và những chỉ dẫn của Chủ tịch Hồ Chí Minh suốt quá trình tìm đường cứu nước và lãnh đạo cách mạng đã cùng Đảng dẫn đường đưa dân tộc đi từ thắng lợi này đến thắng lợi khác và có được cơ đồ, tiềm lực, vị thế và uy tín quốc tế như ngày nay. Đại hội XIV của Đảng đã khẳng định những thành tựu to lớn của 40 năm đổi mới và mở ra kỷ nguyên vươn mình của dân tộc.
Trong kỷ nguyên mới, Việt Nam có thế và lực mới, có nhiều vận hội để phát triển nhanh và bền vững. Nhưng cũng cần nhận rõ 4 nguy cơ mà Đảng nêu ra từ năm 1994 vẫn tồn tại, có lĩnh vực còn phức tạp hơn. Đó là nguy cơ tụt hậu về kinh tế so với các nước, nguy cơ chệch hướng xã hội chủ nghĩa, nguy cơ tham nhũng, lãng phí, tiêu cực và suy thoái của một bộ phận cán bộ, đảng viên, nguy cơ “diễn biến hòa bình” và “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ.
Đại hội XIV tổng kết những bài học lớn, trong đó bài học hàng đầu là kiên định, vận dụng và phát triển sáng tạo chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh; kiên định mục tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội; kiên định đường lối đổi mới của Đảng; kiên định các nguyên tắc tổ chức và hoạt động của Đảng. Bốn kiên định đó bảo đảm đổi mới thành công tiếp tục định hướng cho phát triển trong kỷ nguyên mới tranh thủ vận hội, đẩy lùi nguy cơ.
Đại hội có những quyết sách lớn để hiện thực hóa 2 mục tiêu 100 năm, khai thác mọi nguồn lực, động lực mới tăng trưởng kinh tế hai con số (hơn 10%). Nêu cao tự chủ chiến lược, tự lực, tự cường, tự tin vì Việt Nam hòa bình, độc lập, hùng cường, phồn vinh, văn minh, hạnh phúc. Trong sự nghiệp vẻ vang đó, tư tưởng Hồ Chí Minh mãi mãi soi đường cho Đảng và dân tộc Việt Nam.
Phó Giáo sư, Tiến sĩ NGUYỄN TRỌNG PHÚC
(1) Hồ Chí Minh Biên niên tiểu sử, Nxb Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, 2016, tập 1, trang 86.
(2) Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2011, t.4, tr. 64.
(3) Hồ Chí Minh: Sđd, t.5, tr.81.
(4) Hồ Chí Minh: Sđd, t.5, tr.337-338.
(5) Hồ Chí Minh: Sđd, t.6, tr.232.
(6) Hồ Chí Minh: Sđd, t.2, tr.289.
(7) Hồ Chí Minh: Sđd, t.5, tr.289.
(8) Hồ Chí Minh: Sđd, t.2, tr.320.
(9) Hồ Chí Minh: Sđd, t.4, tr.91.
(10) Hồ Chí Minh: Sđd, t.4, tr.523.
(11) Hồ Chí Minh: Sđd, t.5, tr. 256.
(12) Hồ Chí Minh: Sđd, t.10, tr.391.
Nguồn tin: nhandan.vn
Ý kiến bạn đọc
Những tin cũ hơn
[Video] Hồ Chí Minh – Hành trình tìm đường cứu nước và giá trị còn mãi với thời gian