Từ mô hình Nhà nước sơ khai đến Nhà nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa

Thứ sáu - 29/08/2025 23:42
Nhằm “xây dựng được những nhân tố bảo đảm thắng lợi cho cách mạng” Việt Nam, Lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc đã có 4 sáng lập lớn. Cụ thể, Người đã: sáng lập Đảng; sáng lập Mặt trận dân tộc thống nhất; sáng lập lực lượng vũ trang; sáng lập chính quyền nhân dân. Cao Bằng có vinh dự lớn là nơi Bác Hồ đặt bước chân đầu tiên khi trở về Tổ quốc sau 30 năm bôn ba tìm đường cứu nước. “Vinh dự càng lớn hơn vì chính trên mảnh đất này Bác đã thực hiện 3 sáng lập về sau, để từ Cao Bằng lan tỏa ra toàn quốc” .
Từ nơi ra đời Nhà nước tương lai

Ngày 28/01/1941, Lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc về đến Pác Bó, xã Trường Hà, châu Hà Quảng, tỉnh Cao Bằng trực tiếp lãnh đạo cách mạng Việt Nam. Từ đây, Pác Bó - Hà Quảng - Cao Bằng trở thành đại bản doanh của căn cứ địa Việt Bắc, chiếc nôi của cách mạng Việt Nam.

Trên cơ sở kết quả thí điểm Việt Minh ở Cao Bằng thắng lợi, theo sáng kiến của Người, Hội nghị Trung ương Đảng lần thứ tám (từ ngày 10-19/5/1941 tại Pác Bó, Hà Quảng, Cao Bằng) quyết định thành lập Mặt trận Việt Nam độc lập đồng minh - gọi tắt là Mặt trận Việt Minh… và mở rộng xây dựng Măt trận Việt Minh ra cả nước. Hội nghị cũng quyết định khởi nghĩa vũ trang giành chính quyền và nhiều vấn đề quan trọng khác. Sự chuyển hướng đó đã tạo ra bước nhảy vọt của phong trào cách mạng Việt Nam. 

 
Lán Khuổi Nặm (Pác Bó) - nơi Lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc triệu tập Hội nghị Trung ương lần thứ tám (từ ngày 10 - 19/5/1941),
ra Nghị quyết chuẩn bị vũ trang khởi nghĩa, thành lập Mặt trận Việt Minh. Ảnh: Tư liệu.

Thực hiện Nghị quyết Hội nghị, phong trào cách mạng phát triển nhanh chóng. Cao Bằng trở thành trung tâm của phong trào cứu quốc. Tháng 6/1941, Ban Việt Minh lâm thời tỉnh Cao Bằng được thành lập. “Từ cuối năm 1941, ở Cao Bằng bắt đầu xuất hiện những xã, tổng toàn dân tham gia Việt Minh gọi là “Xã hoàn toàn”, “Tổng hoàn toàn”. Đến cuối năm 1942, đã có 3/9 châu ở Cao Bằng là Hòa An, Hà Quảng, Nguyên Bình trở thành “Châu hoàn toàn”[1]; sau đó phong trào Việt Minh phát triển mạnh sang các châu miền Đông của tỉnh và châu Ngân Sơn (tỉnh Bắc Kạn). Tháng 11/1942, Đại hội đại biểu Việt Minh toàn tỉnh lần thứ nhất đã bầu ra Ban Việt Minh chính thức của tỉnh. Như vậy, tổ chức Mặt trận Việt Minh ở Cao Bằng đã được xây dựng thành một hệ thống khá hoàn chỉnh, thông suốt từ xã, tổng, đến châu, tỉnh.

Ở những “Châu hoàn toàn”, “Tổng hoàn toàn”, “Xã hoàn toàn”, bộ máy chính quyền địch chỉ tồn tại về mặt hình thức, còn thực tế quyền hành do Uỷ ban Việt Minh nắm giữ”
[2]. Nơi đây đã xuất hiện hình ảnh - mô hình của một chính quyền mới, Ban Việt Minh xã đã đảm nhiệm chức năng của chính quyền cách mạng: “giải quyết hầu hết các việc sinh hoạt hàng ngày cho nhân dân… việc chấp hành ruộng đất”[3], cả việc cưới xin, bảo vệ quyền sống, bước đầu đem lại quyền lợi thiết thân cho nhân dân. Những hoạt động đó chính là sự quá độ của một chính quyền cách mạng trong tương lai đầy hứa hẹn, nó càng chứng tỏ uy thế áp đảo của phong trào Việt Minh ngày càng rộng lớn. Đây chính là mô hình nhà nước tương lai của một nước Việt Nam mới, được ra đời ngay từ những ngày cách mạng còn trong bí mật. Như Giáo sư Đặng Xuân Kỳ đã khẳng định: “Cao Bằng còn là nơi thử nghiệm đầu tiên về việc thành lập chính quyền cách mạng dưới hình thức sơ khai ban đầu, đó là những “xã hoàn toàn”, “tổng hoàn toàn”, một hình thức chính quyền mới, khác hẳn chính quyền của giai cấp phong kiến địa chủ cũng như của chế độ thực dân đã có trên đất nước ta”.

Khu giải phóng Việt Bắc ra đời

Sau Hội nghị Trung ương Đảng lần thứ tám, phong trào Việt Minh tại Cao Bằng phát triển sâu rộng và mạnh mẽ hơn, nhanh chóng lan rộng ra khắp tỉnh. Từ Cao Bằng, phong trào Việt Minh bắt đầu tỏa rộng, ăn sâu, bám rễ sang khắp các tỉnh Việt Bắc rồi lan dần về xuôi. Trong cao trào kháng Nhật cứu nước (từ giữa tháng 3 đến giữa tháng 8/1945), Mặt trận Việt Minh thể hiện đầy đủ vai trò chính trị, tập hợp mọi lực lượng nhân dân tiến hành đấu tranh dưới nhiều hình thức, đi từ khởi nghĩa từng phần lên tổng khởi nghĩa, lập chính quyền cách mạng vững chắc ở nhiều địa phương, vùng, miền làm tiền đề cho việc lập chính quyền cách mạng cả nước trong Cách mạng Tháng Tám.


Ngày 16/4/1945, Tổng bộ Việt Minh chỉ đạo thành lập các Uỷ ban dân tộc giải phóng từ Trung ương đến địa phương, coi đó là “hình thức tiền Chính phủ, trong đó nhân dân học tập để tiến lên giữ chính quyền cách mạng”
[4]. Phong trào cách mạng trong cả nước dâng cao, khởi nghĩa từng phần, giành chính quyền từng bộ phận thắng lợi đã giải phóng được nhiều vùng, nhất là ở Việt Bắc.

Chấp hành Chỉ thị của Lãnh tụ Hồ Chí Minh, ngày 04/6/1945, Khu giải phóng Việt Bắc được thành lập
[5], thống nhất chính quyền cách mạng, chấn chỉnh lực lượng quân sự toàn khu, lập Uỷ ban lâm thời Khu giải phóng, ra báo Nước Nam mới. Khu giải phóng thực sự là căn cứ địa vững chắc về mọi mặt, cùng với hệ thống các chiến khu trong cả nước tạo thành hậu phương và là bàn đạp cho thế trận Tổng khởi nghĩa giành chính quyền toàn quốc. Với Mười chính sách lớn của Việt Minh được thực hiện ở Khu giải phóng như: đánh đuổi phát xít Nhật và bè lũ tay sai, tịch thu tài sản của bọn cướp nước và bán nước chia cho dân nghèo, thực hiện tổng tuyển cử và các quyền tự do, dân chủ khác, xây dựng cuộc sống mới, xây dựng nền kinh tế tự cung, tự cấp, chống nạn mù chữ, huấn luyện chính trị, quân sự cho nhân dân…, Khu giải phóng thực sự là hình ảnh của “nước Việt Nam mới”, hình ảnh thu nhỏ của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà sau này.

Đến Nhà nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa

Đến giữa tháng 8/1945, cao trào kháng Nhật cứu nước, khởi nghĩa từng phần đã cuồn cuộn dâng lên từ Bắc chí Nam; Nhật Hoàng tuyên bố đầu hàng không điều kiện. Ngày 13/8/1945, Hội nghị toàn quốc của Đảng họp ở Tân Trào (Tuyên Quang) nhận định điều kiện tổng khởi nghĩa đã chín muồi, quyết định chuyển thời kỳ tiền khởi nghĩa sang tổng khởi nghĩa trong toàn quốc và thành lập Uỷ ban khởi nghĩa toàn quốc.

Tiếp sau Hội nghị toàn quốc của Đảng, ngày 16/8/1945, Đại hội quốc dân họp ở Tân Trào đã thông qua Mười chính sách lớn của Việt Minh, thông qua Lệnh tổng khởi nghĩa và bầu ra Uỷ ban dân tộc giải phóng Trung ương gồm 15 uỷ viên do Lãnh tụ Hồ Chí Minh làm Chủ tịch. Uỷ ban dân tộc giải phóng là Chính phủ lâm thời của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà trước khi thành lập một Chính phủ chính thức, có nhiệm vụ thay mặt Quốc dân giao thiệp với các nước ngoài và chủ trì mọi công việc trong nước. Nghị quyết của Quốc dân Ðại hội nhấn mạnh mục tiêu giành lấy chính quyền, xây dựng một nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa trên nền tảng hoàn toàn độc lập. Có thể nói, Quốc dân Đại hội Tân Trào là một tầm nhìn chiến lược với nhãn quan chính trị sắc bén của Lãnh tụ Hồ Chí Minh, chuẩn bị những tiền đề vững chắc khi cách mạng thắng lợi để tránh bị động trong xây dựng chính quyền dân chủ nhân dân.

Thực hiện Nghị quyết của Ðảng và Quốc dân Ðại hội, cả dân tộc muôn người như một vùng lên giành chính quyền về tay mình. Không khí Tổng khởi nghĩa diễn ra sôi nổi khắp cả nước. Ngày 19/8/1945, Tổng khởi nghĩa thắng lợi ở Hà Nội. Ngày 23/8, Thừa Thiên Huế giành được chính quyền, vua Bảo Đại đọc lời thoái vị và nộp ấn kiếm cho cách mạng. Ngày 25/8, nhân dân Sài Gòn - Gia Định giành được chính quyền… Chỉ trong vòng 15 ngày, từ giữa đến cuối tháng 8 năm 1945, cuộc Tổng khởi nghĩa đã giành thắng lợi hoàn toàn trên phạm vi cả nước.


Ngày 02/9/1945, tại Quảng trường Ba Đình (Hà Nội), Chủ tịch Hồ Chí Minh đọc Tuyên ngôn Độc lập,
khai sinh ra nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, mở ra 
kỷ nguyên mới cho lịch sử dân tộc. Ảnh: Tư liệu.

Ngày 02/9/1945, tại Quảng trường Ba Đình - Hà Nội, thay mặt Chính phủ lâm thời nước Việt Nam mới, Chủ tịch Hồ Chí Minh đọc Tuyên ngôn Độc lập, trịnh trọng tuyên bố với toàn thể nhân dân Việt Nam, với thế giới: Nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà độc lập, tự do ra đời! Ngày 02/9/1945 đã trở thành mốc son chói lọi trong lịch sử vẻ vang của dân tộc Việt Nam và được xác lập là ngày Quốc khánh của Việt Nam.

80 mùa thu Tháng Tám đã đi qua. Tháng Tám âm vang mãi lời Bác: “Nước Việt Nam có quyền hưởng tự do và độc lập, và sự thật đã thành một nước tự do, độc lập. Toàn thể dân tộc Việt Nam quyết đem tất cả tinh thần và lực lượng, tính mạng và của cải để giữ vững quyền tự do, độc lập ấy”
[6].
 
Triệu Thu Trang
Phó Trưởng Ban Tuyên giáo và Dân vận Tỉnh uỷ Cao Bằng
 
 

[1] Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh, Viện Lịch sử Đảng: Lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam, Nxb. Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, 2018, Tập I (1930-1954), Quyển 1 (1930 – 1945), tr.530.
[2] Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh, Viện Lịch sử Đảng: Lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam, Sđd, tr.530.
[3] Nhân dân ta rất anh hùng (Hồi ký cách mạng), Nxb Văn hóa, Hà Nội, 1969, tr.86.
[4] Nguyễn Lương Bằng: Gặp Bác Hồ ở Tân Trào, trong cuốn Tân Trào 1945-1985, Hội Văn học nghệ thuật Hà Tuyên, 1985, tr. 52.
[5] Khu giải phóng Việt Bắc gồm hai căn cứ lớn nằm trên địa bàn 6 tỉnh: Cao Bằng, Bắc Kạn, Lạng Sơn, Hà Giang, Tuyên Quang, Thái Nguyên và một số vùng thuộc ngoại tỉnh Bắc Giang, Vĩnh Yên, Phú Thọ, Yên Bái…
[6] Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia - Sự thật, Hà Nội, 2011, t.4, tr.3.

  Ý kiến bạn đọc

Video
dai hoi dang 2
Banner phai SACH DIEN TU 2

ScreenHunter 108 Jul 06 15 45
z5938366578357 0660a04694014cba01f06354ec63e29c


z5938342173393 e3ad0887d201d3d74066f1305a005930

duluanxahoi
tracuu 1
bhxh2 yukp

dcs




nonnuoccb
12121hq1
Liên kết Website

 

Thống kê truy cập
  • Đang truy cập20
  • Máy chủ tìm kiếm6
  • Khách viếng thăm14
  • Hôm nay4,858
  • Tháng hiện tại220,823
  • Tổng lượt truy cập5,736,493
TRANG THÔNG TIN ĐIỆN TỬ TUYÊN GIÁO VÀ DÂN VẬN CAO BẰNG
Địa chỉ: Tầng 4, Trụ sở Tỉnh ủy,  phường Thục Phán, tỉnh Cao Bằng
Điện thoại: 0206 3855 011  -  Email: bantuyengiao.tu@caobang.gov.vn
Chịu trách nhiệm nội dung: Nông Thanh Tùng, Ủy viên Ban thường vụ, Trưởng ban Tuyên giáo và Dân vận Tỉnh ủy
Ghi rõ nguồn https://tuyengiaocaobang.vn khi phát hành lại thông tin từ địa chỉ này.

  Chung nhan Tin Nhiem Mang
Bạn đã không sử dụng Site, Bấm vào đây để duy trì trạng thái đăng nhập. Thời gian chờ: 60 giây